Bệnh tim mắc phải đầu tiên mà thiết bị y tế Việt Mỹ muốn giới thiệu với bạn chính là bệnh hẹp van hai lá. Đây là một bệnh khá phổ biến ở nước ta. Vậy bệnh hẹp van hai lá là gì? Yếu tố nào ảnh hưởng đến bệnh này? Bạn hãy cùng tham khảo qua bải viết sau đây nhé!

- 5 giai đoạn suy tuần hoàn

- Phòng ngừa huyết khối do xơ vừa động mạch

 

 

Bệnh hẹp van hai lá là gì?

Hẹp van hai lá là một bệnh tim mắc phải thường hay gặp nhất. Bệnh chiếm khoảng 90% tất cả các bệnh thấp gây ra.

Van hai lá là một tổ chức phức tạp, gồm có 2 lá van, vòng xơ của van, các trụ cơ và các dải gân. Tổn thương bệnh lý do thấp thường thấy ở lớp màng trong tim (endocarde) bao phủ trên các tổ chức của van hai lá kể trên. Lỗ van hai lá bình thường có thể đút lọt hai ngón tay trỏ. Diện tích của van hai lá đo được chừng 4cm2. Sau khi mắc bệnh viêm màng trong tim cấp tính do thấp, các lá van bị phù nề, dày ra, đóng thành sẹo, co dúm lại. Trong trường hợp đó, các mép van tim dính lại với nhau, làm cho diện tích của van hai lá bị nhỏ đi, hình thành bệnh hẹp van hai lá. Hẹp van hai lá còn có thể hình thành khi vòng xơ của van hai lá bị tổn thương, khi các dây gân dưới van bị dính lại với nhau. Trong một số lớn các trường hợp, thường thấy cả hẹp và hở van hai lá trên một bệnh nhân.

Phân loại bệnh hẹp van hai lá

Năm 1959, B. V. Petrovski đã đề nghị một bảng phân loại phẫu thuật về bệnh của van hai lá như sau:

- Nhóm 1: Hẹp van hai lá khít đơn thuần, không có hở lỗ van hai lá. Lỗ van hẹp có đường kính khoảng 0.4 – 0.6cm.

- Nhóm 2: Hẹp van hai lá khít với đường kính của lỗ van khoảng 0.6 – 1 cm, có kèm theo hở nhẹ van hai lá. Trong trường hợp này, bác sĩ phẫu thuật chỉ cảm thấy dòng máu trào ngược nhẹ khi để đầu ngón tay trỏ ngay trên lỗ van hai lá trước khi tiến hành thủ thuật mở rộng lỗ van (máu trào ngược độ I).

- Nhóm 3: Lỗ van hai lá hẹp có đường kính khoảng 1 – 1.8cm, bác sĩ phẫu thuật cảm thấy dòng máu trào ngược rõ khi đặt ngón tay trỏ ở khoảng giữa buồng tâm nhĩ (máu trài ngược độ II). Nhóm 3 có thể coi như nhóm hẹp lỗ van hai lá ở mức độ ngang nhau.

- Nhóm 4: Hở lỗ van hai lá đơn thuần, trong trường hợp này, bác sĩ phẫu thuật cảm thấy dòng máu trào ngược ngay khi mới đút ngón tay trỏ vào trong tâm nhĩ trái (máu trào ngược độ III).

- Nhóm 5: Hẹp lỗ van hai lá rõ rệt kết hợp với tổn thương ở van tim khác, thường thấy kết hợp với bệnh ở van động mạch chủ.

Theo kinh nghiệm thực tế, có một nhóm nằm giữa nhóm 3 và nhóm 4, đó là nhóm hẹp hở lỗ van hai lá phối hợp với tình trạng hở van hai lá chiếm ưu thế (hở lỗ van hai lá rõ rệt có kèm theo hẹp van hai lá nhẹ).

Cơ tim có khả năng làm việc bù trừ lớn. Nhờ sự co bóp tăng lên và mạnh lên mà tim có thể đẩy được hết số máu ở tâm nhĩ trái xuống tâm thất trái qua lỗ van bị hẹp.

Sự rối loạn tuần hoàn biểu hiện trong bệnh hẹp van hai lá như sau: Vì lỗ van hẹp nên sự lưu thông máu từ tâm nhĩ trái xuống tâm thất trái rất khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, áp lực trong tâm nhĩ trái tăng lên, thành tâm nhĩ trái bị dày và căng ra. Trong khi đó, tâm thất trái nhận được ít máu và làm việc không tận dụng hết khả năng. Các mạch máu của vòng tiểu tuần hoàn (tức là các mạch máu ở phổi) tràn ngập đầy máu và căng ra. Mức độ hẹp lỗ van hai lá càng khít bao nhiêu thì hiện tượng tràn ngập máu ở vòng tiểu tuần hoàn càng tăng lên cao và càng làm cản trở công việc của tâm thất phải bấy nhiêu. Tâm thất phải phải làm việc gắng sức nhiều mới vượt được sức cản của áp lực trong vòng tiểu tuần hoàn và đẩy được máu vào đó. Cơ tim của tâm thất phải dần dần dày ra và áp lực trong tâm thất phải cũng tăng dần lên. Sau đó, áp lực trong tâm nhĩ phải tăng lên theo, và cuối cùng, tăng áp lực trong toàn hệ thống tĩnh mạch của cơ thể. Gan to ra và bị ứ máu. Xuất hiện phù toàn thân vì thận bị ứ máu, chức năng lọc của thận bị kém đi.

Tim to và có hình dáng đặc biệt mà người ta thường gọi là “tim bò” do tâm thất phải và hai tâm nhĩ giãn to tạo thành. Sự ứ đọng máu ở vòng tiểu tuần hoàn làm cản trở sự trao đổi khí ở phổi.

Yếu tố ảnh hưởng

Bệnh hẹp lỗ van hai lá thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới (tỷ lệ khoảng 2:1). Bệnh thường phát triển ở tuổi trẻ, trung bình từ 30 – 35 tuổi.

Nghề nghiệp không ảnh hưởng gì mấy đến sự phát triển của bệnh hẹp van hai lá. Tuy vậy, làm việc lâu ở những nơi ẩm thấp và lạnh, hoặc cơ thể bị lạnh liên tục cũng ảnh hưởng không ít tới sự phát triển bệnh thấp là nguyên nhân dẫn tới sự hình thành bệnh hẹp lỗ van hai lá và bệnh ở một số lỗ van tim khác.

Bệnh hep van hai la khá phổ biến trong số những bệnh tim mắc phải. Bệnh có những triệu chứng cụ thể như thế nào? Bạn hãy theo dõi tiếp tại: Triệu chứng hẹp van hai lá nhé

Gửi Bình luận ()