Điều trị loét da do tỳ đè ở người nằm lâu, liệt, người ít vận động

Điều trị loét da do tỳ đè ở người nằm lâu, liệt, người ít vận động

Loét do tỳ đè là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây kéo dài thời gian nằm viện, làm tăng chi phí điều trị, thời gian chăm sóc ở những bệnh nhân nằm lâu, liệt, ít vận động. Nếu không điều trị kịp thời và đúng cách sẽ có nguy cơ tử vong cao. Bệnh nhân loét tỳ đè trong vòng 6 tuần nằm viện thì nguy cơ tử vong cao gấp 3 lần. Vì thế, việc điều trị các vết loét do tỳ đè, nằm lâu cần phải thực hiện càng sớm càng tốt nhưng phải đúng cách.

Để chăm sóc và điều trị đúng cách, các nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân cần hiểu rõ về phân loại cấp độ loét da do tỳ đè.

Phân loại giai đoạn loét do tỳ đè

Loét tỳ đè được phân ra thành các cấp độ dựa trên đánh giá mức độ tổn thương mô.

Theo hội đồng quốc gia về vết loét tại Hoa Kì đưa ra năm 1989: loét tỳ đè có 4 độ:

Độ 1: Vùng da tỳ đè nổi lên vết rộp màu hồng (dấu hiệu báo trước của loét tỳ đè).

Độ 2: Tổn thương không hoàn toàn chiều dày lớp da bao gồm thượng bì và lớp đáy (loét nông nhìn như vết trầy hay phồng rộp).

Độ 3: Tổn thương hoàn toàn chiều dày, bề dày của lớp da, tổ chức dưới da đã bị tổn thương.

Độ 4: Hoại tử toàn bộ lớp da có khi giới hạn, có khi lan rộng đến cả vùng cơ, xương, khớp..

Điều trị dự phòng viêm loét do tỳ đè

Đánh giá các nguy cơ có thể xuất hiện loét do tì đè: cần chú ý tới những bệnh nhân có nguy cơ cao như bệnh nhân bị hôn mê, liệt, gãy cổ xương đùi…

Xác định các dấu hiệu báo trước một tổn thương loét như vùng đỏ da, mảng da phù nề

Lật trở bệnh nhân theo chương trình. Xoa bóp vùng bị tì đè, nhằm cải thiện tuần hoàn tại chỗ có nguy cơ bị loét.

Cho bệnh nhân nằm giường nệm khí, nước. Thay đổi áp lực các đệm hơi, nước, các hạt thủy tinh y tế dưới lưng bệnh nhân (tự động). Trong hoàn cảnh không có các trang bị hiện đại, sử dụng các đệm nước, đệm hơi nước cho bệnh nhân nằm, cứ 2 giờ đổi tư thế một lần. Luôn săn sóc, giữ cho da khô ráo. Giữ vệ sinh không để bẩn (phân, nước tiểu), xoa bóp để giảm thiểu dưỡng tại chỗ.

Điều trị loét da do tỳ đè ở người nằm lâu, liệt, người ít vận động

Điều trị loét da do tỳ đè ở người nằm lâu, liệt, người ít vận động

Việc săn sóc dự phòng loét tốt khiến toàn trạng được cải thiện, điều trị loét cũng dễ lành.

Xử lý vết loét do tỳ đè.

Theo thống kê, loét tỳ đè độ 1 và 2 có thể chữa lành nếu biết cách xử lý và chăm sóc đúng cách. Loét độ 3 và 4 cần can thiệp ngoại khoa, cắt gọi vùng thịt và xương đã bị hoại tử sau đó đóng kín vết loét.

Xử lý và điều trị vết loét tỳ đè cấp độ 1 và 2

Bạn có thể chữa lành vết loét nếu chăm sóc đúng cách mà không cần đến phẫu thuật hay can thiệp của bác sĩ. Quá trình liền vết thương chậm là do sự bội nhiễm, các vi khuẩn tiêu diệt tế bào dẫn tới loét, có thể là hoại tử. Vì thế điều trước tiên cần phải làm là rửa sạch vết loét:

Dùng gạc vô trùng lau chùi nhẹ nhàng vết loét để lại bỏ dịch mô, mủ, các chất thải sinh ra trong chuyển hóa, tế bào chết, tế bào hoại tử vì chúng gây cản trở quá trình làm lành vết thương. Chấm nhẹ để làm sạch mà không gây tổn thương vết loét.

Sử dụng nước muối sinh lý 0,9% để rửa sạch vết loét (tuyệt đối không nên sử dụng các dung dịch kháng khuẩn vì nó có thể phá hủy các tế bào bình thường khác).

Băng và bảo vệ vết loét ngăn không cho vết loét bị thấm nước, nhiễm khuẩn. Giữ cho bề mặt vết loét được khô, sạch.

Nhớ xoa bóp xung quanh vết loét để cải thiện tuần hoàn khu vực bị tổn thương.

Điều trị vết loét ở cấp độ 3 và 4

Ở 2 cấp độ sau cùng, khi đã có tổn thương sâu và hoại tử, việc can thiệp ngoại khoa là cần thiết.Cần cắt bỏ những chỗ có da lột và mô hoại tử, việc cắt lọc nhằm loại bỏ các tổ chức hoại tử và bị nhiễm khuẩn, có thể thực hiện cắt gọt ngay tại giường hay tại phòng mổ. Cắt gọt sẽ làm rộng vết loét một khoảng cho phép, nhưng nó lại làm giảm độ tập trung vi khuẩn ở vết thương và loại bỏ mô hoại tử, việc cắt lọc làm tăng cường quá trình liền thương và giảm nguy cơ nhiễm trùng lan rộng vì các tổ chức hoại tử rất dễ nhiễm khuẩn và là nguyên  nhân gây ra viêm tế bào, tổn thương ăn sâu hơn vào xương.

Sau khi cắt gọt, cần phải băng và bảo vệ vùng tế bào bị lộ ra ngoài, bảo vệ vùng thương tổn tránh sự xâm nhập của vi khuẩn và thúc đẩy quá trình lành thương.

Biện pháp ghép da có thể được chỉ định để sử dụng, tuy nhiên cũng chỉ áp dụng được  trong 30% trường hợp, thường ở những tổn thương khu trú và nông

Các phương pháp khác như là sử dụng các vạt da cân, vạt da cơ để che phủ các ổ loét rộng, ưu điểm của các vạt da cơ là cung cấp lượng lớn tổ chức có nguồn cấp máu nuôi tốt, tính chất tổ chức ổn định, giảm đến mức tối thiểu các biến đổi chức năng ở vùng kế cận.

Cách tốt nhất để tránh được những vết loét và biện pháp can thiệp ngoại khoa ở những bệnh nhân liệt, nằm lâu là dự phòng và xử lý vết loét ở những dấu hiệu đầu tiên.

Gửi Bình luận ()