Bệnh hẹp van hai lá có những triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng như thế nào? Hãy tham khảo ngay những nội dung sau để tìm hiểu về bệnh tim mạch này!

- Bệnh hẹp van hai lá là gì

- 5 giai đoạn suy tuần hoàn

 

Triệu chứng bệnh hẹp van hai lá cần biết

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của bệnh hẹp lỗ van hai lá chỉ xuất hiện sau một thời gian nào đó khi diện tích của lỗ van hẹp dưới 2cm3. Đôi khi, sự đóng vôi trong các nắp van tim hoặc sự hình thành các cục máu trong tâm nhĩ trái có thể làm cho bệnh cảnh lâm sàng của bệnh hẹp van hai lá nặng lên, không phụ thuộc vào kích thước của lỗ van bị hẹp.

Tuy vậy, trong các trường hợp không có các biến chứng lâm sàng của bệnh hẹp van hai lá, bệnh nặng hay nhẹ tùy theo mức độ hẹp khít lỗ van và trạng thái tổn thương ở cơ tim.

Dưới đây là các triệu chứng lâm sàng chính của bệnh hẹp lỗ van hai lá:

- Khó thở: Dây là triệu chứng chung của tất cả các loại suy tim. Triệu chứng này xuất hiện khi trái tim không còn đủ sức để cung cấp máu bình thường cho cơ thể và không đảm bảo được đầy đủ việc trao đổi khí ở phổi. Sự phát sinh ra triệu chứng khó thở có liên quan chặt chẽ đến sự giảm lưu lượng máu của tim và sự rối loạn có chế ngoại hô hấp. Lỗ van hai lá càng hẹp khít bao nhiêu thì triệu chứng khó thở khi làm việc gắng sắc càng tăng bấy nhiêu.

- Tim đập nhanh: Đó là triệu chứng thường xuyên của bệnh hẹp van hai lá. Nó là biểu hiện của cơ chế bù trừ trong điều kiện giảm lưu lượng tim.

- Ho ra máu và phù phổi: Đó là những dấu hiệu hiếm gặp hơn, nhưng nó là những triệu chứng điển hình của bệnh hẹp van hai lá. Nguyên nhân của ho ra máu là sự ứ đọng máu rõ rệt trong tĩnh mạch phổi và vỡ các tĩnh mạch dưới niêm mạc phế quản. Viêm các mạch máu ở phổi do thấp cũng là những nguyên nhân gây ho ra máu. Hiếm hơn, thấy ho ra máu trong các trường hợp tăng áp lực ở vòng tiểu tuần hoàn, từ đó, xuất hiện hiện tượng co thắt các tiểu động mạch ở trong phổi, làm cản trở dòng máu chảy về tâm nhĩ trái. Áp lực mao mạch tăng sẽ làm tăng sự hủy hoại chuyển hóa các chất. Sự thiếu dưỡng khí sẽ làm tăng tính chất thấm của thành mạch, từ đó, sẽ làm tăng sự thấm phần dịch của máu vào trong các phế bào và dẫn tới phù phổi. Phù phổi thường thấy ở giai đoạn 2 của trạng thái suy tuần hoàn vì lúc đó chức năng của tâm thất phải còn khá tốt. Triệu chứng ho (không có máu) trong bệnh hẹp van hai lá còn là dấu hiệu của bẹnh viêm phế quản do ứ đọng.

- Đau ở vùng tim: thường là hậu quả của sự chèn ép động mạch vành trái bởi nhĩ trái lớn và động mạch phổi giãn to. Ngoài ra, sự thiếu máu ở động mạch vành do giảm lưu lượng máu trong tim cũng có thể gây nên triệu chứng đau ở tim.

- Yếu toàn thân: đây là dấu hiệu thường xuyên ở các bệnh nhân bị bệnh hẹp lỗ van hai lá. Nguyên nhân của triệu chứng này là sự thiếu dưỡng khí mạn tính của cơ thể nói chung và của các cơ nói riêng.

Triệu chứng cận lâm sàng

Ở những bệnh nhân bị hẹp van hai lá, thường xuất hiện sớm các dấu hiệu má tím hồng, môi, mũi, ngón tay, ngón chân tím nhợt do ảnh hưởng của sự rối loạn trao đổi khí ở phổi. Nhìn thấy tim đập ở dưới mỏm xương ức. Dấu hiệu này chứng tỏ tâm thất phải đã giãn to. Mỏm tim đập nhanh, đôi khi nhìn thấy từ xa, ở dưới núm vú. Đặt vòng tay lên vùng mỏm tim thấy có cảm giác như sờ trên mình con mèo mà ta thường gọi là dấu hiệu “rung miu”. Khi đặt ống nghe lên vùng tim, bác sĩ nghe thấy một âm điệu đặc biệt của bệnh hẹp van hai lá: tiếng đạp thứ nhất của tim tăng mạnh ở mỏm tim, ở đây nghe rõ tiếng thổi tâm trương (khi tâm thất trái giãn ra để nhận máu từ tâm nhĩ trái chảy xuống), tiếng đập thứ hai mạnh ở ổ động mạch phổi (liên sườn hai bên trái sát cạnh xương ức). Những âm điệu này có thể ghi được lên băng của máy ghi âm thanh tim: thấy hình ảnh tiền tâm thu ở mỏm tim, biên độ của tiếng thứ nhất tăng và chậm hơn so với làn sóng !, tiếng thứ hai tăng ở ổ van động mạch phổi, thường ghi lại được “clac mở” của van hai lá (làn sóng ghi nhận được vào khoảng thời gian 0.03 đến 0.011 giây sau tiếng đập thứ hai).

- Trên phim chụp X quang: thấy bóng tim to theo chiều ngang, tâm nhĩ trái và tâm thất phải to ra, động mạch phình lớn, hai phế trường đậm. Trên phim X quang chụp nghiêng có uống sunfat baryt, thấy thực quản bị chèn ép bởi tâm nhĩ trái lớn đè vào.

- Trên băng ghi điện tim: thấy “P mũ ni” (P mitral): làn sóng P rộng và hơi bè ra hoặc có hai răng, trục điện tim hướng sang bên phải, tâm nhĩ trái và tâm thất phải dày ra (phì đại).

Nếu bệnh hẹp lỗ hai lá không được chữa tích cực ở giai đoạn 2, bệnh tim có thể chuyển sang giai đoạn 3 là giai đoạn bắt đầu có suy đại tuần hoàn. Nếu bệnh hẹp lỗ van hai lá được chữa tích cực bằng thuốc và một chế độ đặc biệt, suy tuần hoàn giai đoạn 3 có thể phục hồi trở lại giai đoạn 2 và giai đoạn mổ xẻ với kết quả tốt trong đại đa số các trường hợp.

Suy tuần hoàn giai đoạn 4 thường rất nặng, đã có loạn nhịp tim hoàn toàn hay huyết khối đọng dính vào thành tâm nhĩ trái. Các cục huyết khối đọng này có thể bong hay đứt ra ngoài theo dòng máu động mạch ngoại biên như động mạch đùi, gây hoại tử chi dưới, tắc nghẽn động mạch mạc treo ruột, gây hoại tử ruột, và nặng hơn cả là tắc nghẽn động mạch não, và nặng hơn cả là tắc nghẽn động mạch não, gây tê liệt nửa người, liệt toàn thần, có thể dẫn tới tử vong.

Khi nghi ngờ có huyết khối trong tim, người ta thử các yếu tố đông máu sẽ thấy các yếu tố này tăng lên. Để chữa và đề phòng hiện tượng này, người ta dùng các loại thuốc chống đông máu như Heparine, Dicoumarol… với một liều lượng nhất định, có kiểm tra và điều chỉnh bằng thử các yếu tô đông máu theo từng thời gian quy định.

Suy tuần hoàn giai đoạn 5 là giai đoạn không phục hồi, do đó chống chỉ định mổ lỗ van hai lá.

Trieu chung hep van hai la có biểu hiện sớm nên nếu để ý, người nhà có thể đưa bệnh nhân đi khám và chữa bệnh kịp thời. Để điều trị bệnh này, bạn có thể tham khảo thông tin tại: điều trị hẹp van hai lá.

Xu hướng tìm kiếm: Triệu chứng bệnh hẹp van hai lá

Gửi Bình luận ()